Hình ảnh xe Jeep với rừng cờ vàng ba sọc trên đường phố không còn xa lạ với người dân Mỹ. Chỉ từ xa xa mà thấy những xe jeep này là biết ngay những anh hùng Việt Nam Cộng Hòa sắp tới.
Những Chiếc Xe Jeep Quân Sự Được Quân Đội Nam Việt Nam - Việt Nam Cộng Hòa . trang bị cho các binh chủng , với dáng vẻ bụi bặm , phong trần cùng các người lính , vẫn sống mãi với thời gian .
Dù nói thế nào đi nữa vẫn không thể phủ nhận những chiếc jeep quân sự vẫn mang một vẻ đẹp rất riêng đâm chất quân sự , và đâu đó bên mình một chiếc Jeep A2 (Ford M151 A2, A1), Jeep Willys, Jeep Capo Bầu (Các dòng CJ khác) có một cái gì đó rất quyến rũ . Một Cô Gái Áo Dài Tung Tăng chắc chắn sẽ cầm lòng không đặng khi thấy Một Chiếc Jeep với dáng vẻ ngầu ngầu , chắc chắn sẽ là một tấm ảnh Selfie Post lên Facebook .
Và Để Những " Nhân Chứng " của Chiến Tranh Này sống lại và bon bon trên đường , những người đam mê Jeep phải làm thế nào ? Mời quí vị theo dõi phóng sự sau đây:
Chiếc tàu Cap Anamur 2 cập cảng Hamburg năm 1986 với 286 thuyền nhân Việt Nam trên tàu.
Hòa Ái, phóng viên RFA
Kể từ khi chiến tranh kết thúc vào cuối tháng 4 năm 1975 cho đến nay, đa số người dân trong nước vẫn luôn ôm ấp và thực hiện giấc mơ được định cư ở nước ngoài. Mới đây nhất, Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị Chính phủ Việt Nam phải làm cho đất nước thực sự trở thành nơi đáng sống chứ không phải muốn ra đi. Hòa Ái sơ lược các làn sóng di dân của người Việt suốt hơn 4 thập niên qua cũng như tìm hiểu nguyên nhân vì sao giấc mơ này vẫn còn đó dù chính quyền Hà Nội luôn cho rằng Việt Nam độc lập, ổn định và phát triển.
Hiện nay nhiều trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân thành đạt muốn ra đi, một bộ phận cán bộ, công chức về hưu hay đương chức cũng tìm cách cho mình hay con cháu mình định cư ở nước ngoài.
- Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa
Theo số liệu thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho đến cuối năm 1995, có khoảng gần một triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi và ước chừng phân nửa trong số này bị thiệt mạng trên đường vượt biên. Cuộc vượt thoát trốn chạy chế độ cộng sản của người Việt trong 2 thập niên đầu tiên kể từ khi chiến tranh kết thúc đã gây chấn động dư luận thế giới và Hoa Kỳ cũng như các quốc gia Tây Âu dang tay đón nhận những người Việt may mắn còn sống sót trong hành trình tìm tự do của họ. Từ cuộc di dân mang tính lịch sử này dẫn đến nhiều đợt di dân của vài triệu người Việt khác suốt 4 thập niên qua theo chương trình bảo lãnh đoàn tụ gia đình.
Bên cạnh làn sóng di dân vừa nêu, còn có các làn sóng di dân khác của người Việt được dư luận trong và ngoài nước biết đến; bao gồm Chương trình tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích, gọi tắt là Chương trình H.O do Hoa Kỳ bảo trợ khoảng hơn 200 ngàn cựu nhân viên và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa bị 3 năm tù trở lên cùng thân nhân. Ngoài ra, có khoảng 100 ngàn trẻ lai có cha là công dân Hoa Kỳ và gia đình sang Mỹ định cư theo chương trình nhân đạo có tên “Chương trình con lai Mỹ”.
Một làn sóng di dân khác nữa của người Việt trong 4 thập niên mà ngày càng có chiều hướng gia tăng mạnh đó là cuộc trốn chạy xin tị nạn của du học sinh và công nhân xuất khẩu lao động khi khối Cộng sản Đông Âu sụp đổ. Số liệu không chính thức Đài ACTD thu thập được vào thời điểm đầu thập niên 1990 có khoảng 300 ngàn người sống rải rác ở Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Đông và Tây Đức… Số liệu mới nhất cho thấy nhiều gia đình ở các quốc gia này gồm đủ cả 3 thế hệ, trong đó có gia đình lên đến 80 thành viên.
Sau khi Chính phủ Hà Nội áp dụng chính sách “Đổi mới” vào năm 1986 theo cơ chế “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, xã hội Việt Nam thay đổi thông thoáng hơn trong nhiều lãnh vực, đời sống người dân được thoải mái hơn; thế nhưng vẫn còn có nhiều người Việt muốn định cư ở nước ngoài và họ tìm mọi phương cách ra đi hợp pháp.
Một làn sóng di dân đặc biệt gây chú ý trong dư luận hơn 2 thập niên qua phải kể đến trường hợp hàng trăm ngàn phụ nữ Việt lấy chồng ngoại quốc để ra đi có sự đổi đời, nôm na gọi là “Cô dâu Việt”. Và còn một làn sóng di dân âm thầm mà Nhà nước Việt Nam gọi là “hiện tượng chảy máu chất xám” trong các thập niên vẫn là vấn đề nan giải cấp quốc gia như Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa phát biểu trong buổi họp Quốc hội mới đây, vào sáng hôm mùng 1 tháng 4, rằng:
Những người vượt biển tìm tự do
“Hiện nay nhiều trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân thành đạt muốn ra đi, một bộ phận cán bộ, công chức về hưu hay đương chức cũng tìm cách cho mình hay con cháu mình định cư ở nước ngoài.”
Tính đến năm 2012, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo cho biết có hơn 100 ngàn du học sinh Việt Nam học tập và làm việc ở 49 quốc gia, trong đó có đến 90% du học tự túc và nhiều người trong số họ đã không về nước. Câu hỏi đặt ra là hơn ai hết, họ sẽ có điều kiện sống tốt tại quê nhà nhưng vì sao không trở về mà lại chọn định cư ở nước ngoài? Để trả lời câu hỏi này, Đài RFA tiếp xúc với một số trí thức trẻ, những người quyết định tìm cơ hội ở lại sinh sống và làm việc nơi quốc gia họ đã từng du học, và được họ cho biết không có sự lo lắng nào về đời sống kinh tế nhưng môi trường làm việc ở Việt Nam sẽ rất khó thích nghi, đặc biệt đối với những người làm việc trong lãnh vực khoa học. Từ Anh Quốc, Tiến sĩ An Hà nêu lên quan điểm của mình vì sao không trở về nước:
“Đối với những người nghiên cứu khoa học thuần túy thì việc về nước đúng là lãng phí. Bởi vì nghiên cứu khoa học cần sáng tạo, cần nghĩ điều người khác không dám nghĩ, làm những điều người khác chưa dám làm. Tuy nhiên ở nước mình thì người nghĩ những điều người khác không dám nghĩ và làm những việc người khác không dám làm thì khó lắm. Nói chung guồng máy không hoan nghênh những người dám nghĩ dám làm như thế. Nghiên cứu khoa học thì ở đâu cũng có cái hay và có cái dở nên nói gọi là khác biệt. Không phát huy được trong công việc và suy nghĩ khác cách suy nghĩ thông thường của Việt Namnên khó hòa hợp và hội nhập, không còn phù hợp với môi trường đó nữa.”
Là người có cơ hội tiếp xúc nhiều với giới trí thức Việt Nam thuộc thành phần di dân của “hiện tượng chảy máu chất xám”, GS. TS. Nguyễn Văn Tuấn, Giảng viên cao cấp tại Đại học New South Wales, ở Úc, nói với Đài ACTD ông nhận được rất nhiều chia sẻ từ giới trí thức cho đến những gia đình trung lưu tại Việt Nam cho biết họ muốn định cư ở nước ngoài vì tương lai tươi sáng hơn cho bản thân cũng như con cháu được sống trong xã hội dân chủ văn minh và pháp quyền. GS. Nguyễn Văn Tuấn kể lại:
“Tựu trung lại hầu như những người tôi tiếp xúc, ai cũng quan tâm về sự tụt hậu của đất nước mình. Họ so sánh với Thái Lan, Hàn Quốc và Singapore… Họ nói ‘từ năm 75, Việt Namđâu khác các nước đó gì đâu; thế mà chỉ 40 năm qua mình tụt hậu so với họ quá xa, thậm chí hàng trăm năm.’ Và họ cảm thấy tuyệt vọng, bất lực vì không có cách gì để đóng góp giúp đất nước vươn lên.”
Chính phủ Việt Nam vẫn chưa thể tìm ra giải pháp hiệu quả để thu hút người tài trở về nước hay ngăn chặn, làm giảm thành phần trí thức và những gia đình di dân không phải vì tiền mà vì cảm thấy không vui, không an toàn về pháp lý, các quyền tự do dân chủ không bảo đảm đầy đủ và lo sợ đất nước bị lệ thuộc nên phải ra đi.
Đối với tầng lớp người dân có hoàn cảnh nghèo khó thì được ra nước ngoài dù trong thân phận xuất khẩu lao động, làm ô sin hay cô dâu bất đắc dĩ… vẫn là một giấc mơ đổi đời và họ sẵn sàng chớp lấy một khi có cơ hội dù phải đánh đổi bất chấp thứ gì như những đồng bào của họ từng dám liều chết hơn 40 năm trước đây khi đặt chân lên thuyền hướng ra biển cả.
Một sĩ quan cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ đứng bên cạnh xác của cậu bé (Aylan Shenu) trôi dạt vào bờ biển Bodrum, miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, vào ngày 02 tháng 9 năm 2015 sau khi một chiếc tàu chở người tị nạn bị chìm khi đến gần các hòn đảo của Hy Lạp.
Tường An, thông tín viên RFA, Paris
Gần đây, cuộc khủng hoảng người tị nạn bằng đường bộ và bằng thuyền từ Syria, Châu Phi đến Âu châu ngày càng tăng là đề tài nhức nhối của các quốc gia tại lục địa này. Người Việt tị nạn tại Âu châu nghĩ sao về làn sóng người tị nạn mới này ?
Từ nhiều năm nay, hình ảnh những người tị nạn sống vất vưỡng trong các lều trại ở Calais (thuộc miền Bắc nước Pháp) đã trở thành quen thuộc trên báo chí Pháp. Những người mạo hiểm chui qua hàng rào ở Hungary, hàng ngàn thuyền nhân Phi Châu đến Ý qua biển Địa Trung Hải trên những con thuyền cao-su nhỏ bé vẫn là những câu chuyện đi bên lề cuộc sống . Trái tim Âu châu chỉ thoáng lay động khi thi thể 71 người tị nạn được tìm thấy trong một xe tải bỏ trống trên đường cao tốc đi từ thủ đô Budapest (Hungary) đến Vienna (Áo) ngày 27/8. Nhưng phải đến ngày 3/9 khi hình ảnh chú bé Aylan Kurdi, 3 tuổi, nằm úp mặt xuống cát, thi thể trôi dạt vào bờ biển Bordun tại Thổ Nhĩ Kỳ thì người dân Âu châu mới thực sự thức tỉnh, thế giới mới thực sự quan tâm đến nan đề tị nạn âm ỉ từ nhiều năm nay ở các nước Tây Âu. Anh Bùi Đình Đại, cư ngụ tại Paris cho biết cảm tưởng :
« Là một người có quá khứ tị nạn thì đây là một thông tin gây chấn động cho cá nhân em.
Thuyền nhân ngày xưa và người tị nạn hôm nay có gì giống và khác nhau ? Anh Bùi Đình Đại tiếp :
Tức nhiên là có những điểm khác nhưng nhìn chung thì nó có những điểm tương đồng, đó là sự ra đi của họ đều bắt nguồn từ sự hỗn loạn trong một chế độ độc tài, cộng thêm vấn đề của Hồi giáo cực đoan, có nghĩa là người dân Syria phải sống trên đe, dưới búa giống như tình trạng của người Việt Nam sau năm 1975. Việt Nam hoàn toàn nằm dưới chế độ Cộng sản thì đa số người Việt thời đó phải bỏ nước ra đi bằng nhiều ngả. Thì ngày hôm nay, Syria cũng vậy, họ cũng phải ra đi bằng mọi giá dù rằng cái hy vọng đặt chân đến được đất nước thứ ba rất là mong manh mà họ vẫn phải ra đi, cho nên rằng nó có cái gì đó rất gần gủi với cái quá khứ tị nạn của người Việt Nam »
Khi nhìn những xác chết trôi vào bờ biển tôi cảm thấy cũng xót xa vì bất cứ người nào, dù bất cứ lý do nào mà họ phải tìm được tị nạn khỏi quốc gia của mình sang một quốc gia khác là vì họ muốn trốn chạy một sự tàn ác hoặc bất công. Cái giá mà họ phải trả lại sinh mạng của họ, gia đình của họ. Tôi thấy thật là xót xa
Nhà báo Nguyễn văn Huy
Thật vậy, đối với những thuyền nhân tị nạn Việt Nam thì hình ảnh những con người xác xơ trên những con thuyền mong manh, mắt tuyệt vọng hướng về đại dương mênh mông, hoặc những người mẹ tay bồng tay bế vượt rừng núi tìm tự do gợi lại hình ảnh của họ 40 năm về trước. Nhà báo Nguyễn văn Huy, một thuyền nhân của 33 năm về trước cho biết cảm tưởng :
« Khi nhìn những xác chết trôi vào bờ biển tôi cảm thấy cũng xót xa vì bất cứ người nào, dù bất cứ lý do nào mà họ phải tìm được tị nạn khỏi quốc gia của mình sang một quốc gia khác là vì họ muốn trốn chạy một sự tàn ác hoặc bất công. Cái giá mà họ phải trả lại sinh mạng của họ, gia đình của họ. Tôi thấy thật là xót xa »
Ngày xưa, thuyền nhân Việt Nam được nhiệt tình đón nhận lúc nền kinh tế Âu châu đang thời kỳ sung mãn và theo nhà báo Nguyễn văn Huy, sự đón tiếp nồng ấm đó còn là một lời xin lỗi cho những sai lầm trong chiến tranh Việt Nam. Ngày nay, Âu Châu đang đứng trước sự chọn lựa khó khăn giữa một nền kinh tế trì trệ, thất nghiệp gia tăng và lòng nhân đạo. Từ ngoại ô Paris, nhà báo Nguyễn văn Huy phân tích :
« Những thuyền nhân Việt Nam những năm 1970 -1980 quả là có may mắn, tức là họ được các quốc gia Châu Âu giang tay tiếp dón, đem từ các trại tị nạn sang Châu Âu, cho họ có một cuộc sống ổn định. Thảm cảnh thuyền nhân thập niên 70-80 gây xúc động cho lương tâm thế giới. Những người đi những chiếc thuyền nan lênh đênh trên biển cả, rất nhiều người đã bị chết. Những người này đã liều chết để tìm tự do. Đây là một giá trị mà họ phải tôn vinh. Hơn nữa, họ thấy rằng trước kia họ đã góp phần nào ủng hộ chế độ miền Bắc thôn tính miền Nam, nay thấy hậu quả của sự thôn tính đó nên họ giang tay đón tiếp những người miền Nam bỏ nước chạy đi trên biển cả. Xã hội Châu Âu ngày nay nhìn những người tị nạn này dưới một con mắt khác, họ thấy rằng đây là một vấn đề lương tâm. Nhưng mà khi chấp nhận các thành phần này vào xã hội của họ thì sẽ gây ra một số vấn đề đối với người dân trong nước. Có một số quốc gia tiếp cận với những vùng đất nhập cư như Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha, họ không đủ khả năng tiếp nhận những người nhập cư bất hợp pháp này. Trong khi những quốc gia phát triển ở phía Bắc của Âu Châu thì họ nhận những người này gây ra một sự ùn đẩy khối người này. Mới đây Hội đồng Liên Hiệp Âu Châu cũng đã ra quyết định mỗi quốc gia phải tiếp một số người cố định. Đây cũng là một vấn đề chưa được thống nhất »
Hàng trăm người di cư đi qua Budapest sau khi rời khỏi khu vực quá cảnh của các nhà ga xe lửa chính Budapest, ngày 04 tháng 9 năm 2015 với ý định đi bộ đến biên giới Áo.
Thế giới không thể làm ngơ trước hình ảnh chú bé Syria 3 tuổi nằm úp mặt xuống bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ. Hội Đồng Liên Âu vội vã đưa ra các hạn ngạch trong đó cứ 1000 cư dân Âu châu sẽ nhận từ 2-4 người tị nạn. Dự kiến : Tây Ban Nha sẽ nhận 14931 người tị nạn, Ba Lan 9287, Cộng Hoà Sec : 2978, Hà Lan : 7214, Bỉ 4564 , Thụy Điển : 4469, Roumania 4646…. Tổng thống Pháp Francois Holland tuyên bố Pháp sẽ nhận 24.000 người tị nạn trong vòng 2 năm. Đức, quốc gia hào phóng nhất tuyên bố sẽ nhận 800.000 người tị nạn. Anh Hà Nguyễn Quốc Hùng, sống tại thành phố ( Mainz (Mayence), thủ phủ bang Rheinland-Pfalz của Đức cho biết cảm tưởng :
Với tư cách một người gốc VN đã từng đến đây- chúng tôi thuộc về thế hệ thứ nhất di dân sang đây thì chúng tôi cũng cảm thấy mình có một trách nhiệm tinh thần trong việc ủng hộ nước Đức để trả lại nước Đức món nợ ân tình mà nước Đức đã mở rộng vòng tay đối với cộng đồng người VN ở đây
Anh Hà Nguyễn Quốc Hùng
« Là một công dân Đức thì chúng tôi, dĩ nhiên về mặt tình thì chúng tôi cũng có những sự băn khoăn về khả năng về tài chính, kinh tế của quốc gia mình nn mà về mắt lý thì, thứ nhất, chúng tôi minh định được rằng là một công dân Đức chúng tôi rất ủng hộ chính sách này của chính phủ Đức và cũng như là với tư cách một người gốc Việt Nam đã từng đến đây- chúng tôi thuộc về thế hệ thứ nhất di dân sang đây thì chúng tôi cũng cảm thấy mình có một trách nhiệm tinh thần trong việc ủng hộ nước Đức để trả lại nước Đức món nợ ân tình mà nước Đức đã mở rộng vòng tay đối với cộng đồng người Việt Nam ở đây, dù rằng món nợ ân tình này nhiều lắm cũng chỉ là một ít sự ủng hộ vật chất, còn không nó cũng chỉ nằm ở dưới dạng tinh thần nhưng nó cũng là món nợ ân tình mà cộng đồng người Việt Nam nói chung trong đó có cá nhân chúng tôi cũng cảm thấy đây là một trách nhiệm của mình. »
Chị Mai, một công nhân xuất khẩu lao động ở Đông Đức, nay sống tại Franfurt cũng rất hài lòng về quyết định này của Thủ Tướng Merkel :
« Tôi rất là hài lòng ! Trước làn sóng của người Syria này thì tôi cũng rất rất là thương cảm họ và cũng muốn giúp được gì cho người ta thì cũng tốt bởi vì cũng giống như hoàn cảnh người Việt Nam mình trước đây khi mà những thuyền nhân hoặc là những người mà sau khi bức tường (Bá Linh) đổ thì người Việt của mình sang bên Tây này cũng đông, thì chắc là hoàn cảnh của họ cũng giống như hoàn cảnh của đồng hương của mình cách đây hơn 20 năm về trước »
Cuối tuần vừa qua, hơn 20.000 người, phần lớn là người Syria đã đến Đức. Chuyến tàu hoả đầu tiên từ Áo đến Munchen được cư dân thành phố này chào đón nồng ấm . Người ta nhìn thấy những gương mặt bơ phờ nhưng rạng rỡ. Nhiều người vẫn còn cầm chặc trong tay tấm hình nhầu nát của bà Thủ tướng Angela Merkel. Anh Hà Nguyễn Quốc Hùng cho biết tiếp :
« Nhìn chung thì tuyệt đại đa số họ rất là ủng hộ quyết định này và họ cũng đã mở rộng vòng tay đón nhận những người tị nạn này. Có hàng trăm người Đức họ ra các bến xe, bến tàu, họ căng biểu ngữ họ tự viết lên những tấm carton hay những tấm giấy khổ lớn những lời chào mừng « welcome to Germany »..v.v… và họ mang đến rất là nhiều hoa, rất là nhiều bánh kẹo cho trẻ em, và theo như tôi được biết thì ở Messehallen, tức là khu triển lảm cura Hamburg họ đã dựng hẳng một gian rất lớn để chứa những đóng góp bằng hiện vật của dân Đức và cứ vài phút đồng hồ là lại có những chuyến xe chở ùn ùn đến đó nào là quần áo cũ, nào là những món đồ chơi…. Tất nhiên chính phủ Đức đã có kế hoạch để tiếp nhận làn sóng rất là lớn những người tị nạn này nhưng mà người dân họ cũng tự phát bằng tất cả những cảm tình của họ. Nó làm cho chúng tôi rất là ấm lòng bởi vì mặc dù chúng tôi không thuộc về thế hệ thuyền nhân đầu tiên đến Đức nhưng chúng tôi cũng được nghe kể lại thì cái tình cảm mà người dân Đức đã dành cho thuyền nhân tị nạn Cộng sản Việt Nam từ 40 năm trước hình như ngày hôm nay, một lần nữa, họ được thể hiện với những người tị nạn ngày hôm nay tạo cho mình một cảm giác rất là ấm lòng, rất là tự hào khi mình được làm một thành phần trong một xã hội rất là nhân bản như vậy »
Ngày nay người ta cứ đòi hỏi Châu Âu giúp những người tị nạn này mà không ai đòi hỏi Mỹ, Úc, Nhật hoặc Canada hay các quốc gia khác tiếp đón người tị nạn. Tôi thấy rằng vai trò là sẽ phải đánh động lương tâm của thế giới, chia sẻ gánh nặng này cho các quốc gia khác trên thế giới chứ không riêng tại Châu Âu
nhà báo Nguyễn văn Huy
Hơn 60.000 người nhập cư cập bến các bờ biển Ý trong năm qua. Từ đầu năm đến nay khoảng 2300 người bị vùi thây trong lòng biển Địa Trung Hải. Giữa những thi thể trôi dạt vào bờ, người ta tìm thấy một lá thư não lòng : « Mẹ yêu quý, con xin lỗi vì chiếc thuyền đã chìm và con không thể tới châu Âu được nữa. Con xin lỗi vì không thể gửi trả lại khoản tiền mà mẹ đã vay để đưa con lên thuyền. Đừng buồn mẹ nhé nếu họ nói không thể tìm thấy thi thể của con giữa đại dương rộng lớn, một chiếc quan tài không thể mang con trở về với mẹ, nó chỉ mang lại cho mẹ thêm nợ nần, các khoản chi phí tang lễ, chôn cất và vận chuyển mà thôi. Con xin lỗi mẹ ơi, vì chiến tranh đã xảy ra và con xin lỗi vì con phải đi như bao đứa trẻ ấp ủ những giấc mơ khác. Dù ước mong của con không lớn lao, con chỉ ước có đủ tiền để mua một lọ thuốc chữa bệnh cho mẹ và một ít tiền để giúp mẹ chữa răng.Mà mẹ à, răng của con giờ đã chuyển sang màu xanh rồi vì tảo biển đã bám đầy trên đó.
Cám ơn biển cả đã chào đón chúng tôi mà không đòi hỏi visa… Cảm ơn loài cá sẽ ăn thịt cơ thể tôi mà không cần hỏi tôn giáo của tôi là gì, hay vị thế chính trị của tôi ra sao… »
Mặc dù vậy, 40 % người Ý đã phản đối Roma cứu vớt thuyền nhân trên Địa Trung Hải. Pháp, một xứ sở đã có quá nhiều di dân, đang đối phó với nền kinh tế suy thoái và vấn nạn xã hội gia tăng, 55% người Pháp đã phản đối chính sách nhập cư. Trước tình trạng đó, giải pháp được đa số ủng hộ là dùng không quân oanh kích tổ chức thánh chiến Hồi Giáo tại Syria. Bên cạnh đó, nhà báo Nguyễn văn Huy còn đề nghị một cách giải quyết khác :
« Ngày nay người ta cứ đòi hỏi Châu Âu giúp những người tị nạn này mà không ai đòi hỏi Mỹ, Úc, Nhật hoặc Canada hay các quốc gia khác tiếp đón người tị nạn. Tôi thấy rằng vai trò là sẽ phải đánh động lương tâm của thế giới, chia sẻ gánh nặng này cho các quốc gia khác trên thế giới chứ không riêng tại Châu Âu »
Phía sau mỗi người tị nạn là một câu chuyện đắng lòng. Trong khi các quốc gia còn đùn đẩy nhau trên hồ sơ tị nạn thì cứ mỗi phút lại có hàng ngàn người trốn chạy độc tài, áp bức đang vượt qua biên giới trong vô vọng.
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam tổ chức chuyến đi mang tên “Về Bến Tự Do" đến bốn nước Indonesia, Philippines, Malaysia và Thái Lan trong 20 ngày vào tháng 8 năm nay. Đó là những nơi từng in dấu chân của những người Việt Nam đi tìm đường tỵ nạn sau biến cố 1975.
Những nơi đó còn lại gì và mong muốn của những người trở lại ra sao? Biên tập viên Gia Minh của Đài Á Châu Tự do trình bày những ghi nhận được qua chặng Malaysia.
Cảm xúc & hồi tưởng cựu thuyền nhân
Đó là một vài chia sẻ và lời hát của hai cựu thuyền nhân trên chiếc xe buýt đưa đoàn đến đảo Bidong, Malaysia nơi mà nhiều người Việt tỵ nạn từng tạm trú trước khi được đưa đi định cư tại một quốc gia thứ ba.
Ông Kha Văn Long sống tại Australia chia sẻ những suy nghĩ và cảm xúc khi trở lại nơi từng cưu mang ông:
“Sau 34 năm tôi mới quay trở lại thì những hình ảnh của 34 năm về trước hiện ra rất xúc động và tôi đi thăm viếng một vài nghĩa trang thì rất thương cảm những người đã đi mà không đến!”
Bác sĩ Trương Lâm Bảo Chi hiện sống tại Canada cũng cho biết:
... những hình ảnh của 34 năm về trước hiện ra rất xúc động và tôi đi thăm viếng một vài nghĩa trang thì rất thương cảm những người đã đi mà không đến!
- Ông Kha Văn Long, Australia
“Trong chuyến đi tôi có nghe anh Sơn trong Ban tổ chức nói có những ngôi mộ chôn tập thể hằng mấy chục người, hằng mấy trăm người của những tàu bị chìm và xác tấp vào. Chúng tôi cũng rất hy vọng.
Hôm qua đến Mã Lai đi thăm mộ chôn tập thể đầu tiên chôn 46 người, trong đó có một bé trai và hai bé gái. Điều đó làm tôi xúc cảm nhớ đến hai đứa em con của cậu tôi mà cậu tôi mang theo. Tôi được người khác kể lại là khi tàu chìm thì người cha để con lên vai và cùng chìm và chúng tôi rất xúc động.”
Ông Ngô Đức Hữu, một người từng tìm lại hầu hết những nơi mà thuyền nhân Việt Nam đặt chân đến trong khu vực Đông Nam Á trong những năm sau biến cố 1975 cũng có trình bày:
“Tôi cảm nhận được rằng đến ngày hôm nay đi qua đất nước Mã Lai, Nam Dương người ta vẫn nhớ tiếng nói của người Việt Nam. Họ biết người Việt Nam trở về nên họ bập bẹ một số tiếng Việt, nên mình cảm thấy rất sung sướng. Tại vì chắc có làm điều gì đó thì người ta mới nhớ đến mình được.”
Cầu nguyện cho thuyền nhân bỏ mạng trên biển
Những người tham gia chuyến Về Bến Tự Do chặng Malaysia trước khi ra đảo Bidong được đưa đi thăm những mộ phần của thuyền nhân Việt Nam chết trước khi cập được bờ biển vùng Terengganu, Malaysia.
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam trong 10 năm qua, tức từ năm 2005 đến nay tìm được chừng 2500 trong số theo thống kê của Liên hiệp quốc là từ 300 ngàn đến 500 ngàn thuyền nhân Việt Nam bỏ mình trên biển trong những đợt vượt biên bằng thuyền để tìm đến bến bờ tự do.
Có nhiều chuyến tàu mà người đi trên đó chết hết nên khi xác họ tấp vào bờ đã được cư dân địa phương chôn tập thể. Có những mộ tập chể chôn xác gần 50 người, có mộ chôn gần 140 người…
Trên đảo Bidong là mộ phần của những thuyền nhân chết trong khi chờ được đi định cư. Có người vì bị từ chối sau tiến trình thanh lọc nên đã tự tử vì quá tuyệt vọng.
Mộ phần của những người không may đó được Văn Khố Thuyền nhân trùng tu với sự đóng góp tài chính của nhiều đồng bào gốc Việt tại nhiều nơi trên thế giới. Và nhiều cư dân địa phương từng chôn cất người chết năm nào, tiếp tục chăm sóc mộ phần của những người không may.
Đoàn lần này đến thăm, lập đàn chẩn tế cầu siêu theo nghi thức Phật Giáo cũng như nguyện cầu theo nghi thức Công giáo dưới sự chủ trì của 6 vị sư, một ni cô Phật giáo và một linh mục Công giáo.
Bốn buổi lễ được tiến hành tại các khu nghĩa trang Panji, Balai Bachok, Kuala Terengganu và tại cầu jetty đảo Bidong.
Kế hoạch duy trì và giáo dục cho thế hệ trẻ
Những cựu thuyền nhân khi nhìn thấy phần mộ được tu sửa đều rất vui mừng; tuy nhiên họ cũng có suy nghĩ làm sao có sự thăm viếng thường xuyên và tu bổ; nhất là những mộ phần trên đảo Bidong. Nơi này cây rừng mọc rất nhanh. Khu trại tỵ nạn trước đây nhìn vào như một rừng xanh.
Theo lời của nhiều cựu thuyền nhân thì đến nay những nhà cửa vào thời họ sống như cơ quan của Liên hiệp quốc, thư viện, nhà cung cấp vật phẩm… đều không còn nữa. Trên đồi tôn giáo ngôi chùa cũ chỉ còn nền và các tượng Phật mất đầu, nhà thờ Công giáo chỉ còn bức vách Cung Thánh, đài Đức Mẹ, bệ bia ghi ơn những quốc gia và tổ chức giúp cứu thuyền nhân Việt Nam…
Đó là những chỗ để cho các thế hệ sau hiểu lý do tại sao họ được sinh ra ở những đất nước khác, tại sao cha mẹ họ lại phải chịu bỏ tính mạng để ra đi như vậy!
- BS Kenneth Lê
Đây là tấm bia mà chính quyền Hà Nội yêu cầu phía Malaysia đập bỏ. Nhưng theo lời của một người trong ban tổ chức thì dấu cắt bê tông dưới chân theo họ là tấm bia được đưa đi để ở nơi nào đó và hy vọng một ngày trong tương lai nó sẽ được trả về lại vị trí cũ.
Một cựu thuyền nhân khi đến Bidong còn tuổi vị thành niên và nay đã thành danh tại Hoa Kỳ, bác sĩ trẻ Kenneth Lê cho biết:
“Em thấy ở Bidong, Galang, còn Bataan thì không được nhiều lắm nhưng cũng khang trang lắm rồi. Đó là những chỗ để cho các thế hệ sau em nữa khi họ muốn tìm hiểu lý do tại sao họ được sinh ra ở những đất nước khác, tại sao cha mẹ họ lại phải chịu bỏ tính mạng để ra đi như vậy! Trong những chuyến em đi thì có những cô chú đem theo con của họ, tức thế hệ thứ nhì sinh ra ở Mỹ, Úc hay Canada. Các em nhỏ đó cũng 15, 16, 19, 20, 21, 22...tuổi rồi nên cũng có thể nhận ra tại sao cha mẹ phải đi như vậy. Những lần đi đều đến nghĩa trang cũng như có bảo tàng nên các em cũng hiểu được.”
Những cựu thuyền nhân nay đã bước sang tuổi 60, 70 thậm chí 80 đều cũng mong muốn những khu mộ phần và những di tích các trại tỵ nạn được gìn giữ và có kế hoạch để thế hệ con cháu của họ lớn lên tại những quốc gia tự do biết và đó là cách giáo dục về nguồn cội Việt Nam cho các cháu.
Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân, ông Trần Đông cho biết trong thời gian tới sẽ tiến hành dự án bảo tàng thuyền nhân Việt Nam trên mạng. Đây là cách thức để những bạn trẻ có cơ hội tìm hiểu về giai đoạn lịch sử của người Việt Nam sau năm 1975.
Kuku: Bia tưởng niệm TNVN ở Kuku do chính quyền địa phương (Indonesia) thiết lập
Gia Minh, biên tập viên RFA
Một nhóm người gốc Việt từng phải dùng thuyền vượt biên để tìm qui chế tỵ nạn ở những nước tự do từ đầu tháng 8 đến nay đang trở về tại những khu nghĩa trang chôn cất những người không may bỏ mình trên biển.
Gia Minh phỏng vấn hai người tổ chức chuyến đi là giám đốc tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân, ông Trần Đông, và nhà báo Lưu Dân.
Ông Trần Đông: Chúng tôi đã dự trù chuyến đi này khoảng nửa năm, đây là chuyến đi "Về Bến Tự Do' 20, 21 và 22 qua các quốc gia Philippines, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Có khoảng 100 thành viên tham dự cho cả 4 chuyến. Trong số này thì có người đi 4 chuyến, có người đi 3, có người đi 2, có người đi 1 chuyến. Chúng tôi đã sang tuần lễ thứ 3 và hoàn tất xong chặng đường ở Indonesia. Hôm nay là ngày đầu tiên ở Malaysia.
Gia Minh:Anh Lưu Dân có thêm gì không?
Nhà báo Lưu Dân: Trong chuyến đi về Indonesia đoàn có tổng cộng trên 52 người và đã đến những địa danh mà có lẽ chúng ta đã quen thuộc đó là Galang, Letung, Kuku, Ariya... Ngoài sinh hoạt của nhóm chúng tôi cũng có những buổi cầu nguyện chung cho những thuyền nhân đã đến trong vùng này. Trong đoàn cũng có một số anh chị em nhân cơ hội này tìm lại mồ mả của thân nhân thì cũng may mắn thay trong đoàn cũng có 4 thành viên tìm lại được mộ của chị, mẹ và con của họ. Đó cũng là điều an ủi cho người thân của họ sau nhiều năm không được thăm viếng. Đây cũng là một dịp đặc biệt và mang ý nghĩa đánh dấn sau 40 năm người Việt định cư tại hải ngoại. Chúng tôi cũng nhận được sự ủng hộ tích cực của các cộng đồng ở địa phương như ở Úc, Hoa Kỳ, Canada... Cũng nhờ những sự hỗ trợ đó mà chúng tôi có thể thực hiện chuyến Về Bến Tự Do lần này.
Nghĩa trang thuyền nhân ở Galang đã được trùng tu năm 2014
Gia Minh:Đây là dịp đặc biệt như các anh vừa nói, thì những việc làm được rồi và những việc sẽ làm trong những ngày sắp đến?
Ông Trần Đông: Ý nghĩa đặc biệt của chuyến này là cầu nguyện và thăm viếng; và điểm chính là vấn đề cầu nguyện để tổng kết lại công trình trùng tu đã làm từ năm 2005. Qua 10 năm Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của bà con khắp nơi, chúng tôi đã thay mặt quí vị để trùng tu lại tất cả mộ phần tìm kiếm được ở tại Malaysia, Indonesia và hiện tại đang hoàn tất những công trình trùng tu cuối cùng của nghĩa trang Bataan, Philippines. Nhân kỷ niệm 40 năm định cư này là để 'wrap up' lại chương trình trùng tu.
Ý nghĩa đặc biệt của chuyến này là cầu nguyện và thăm viếng; và điểm chính là vấn đề cầu nguyện để tổng kết lại công trình trùng tu đã làm từ năm 2005
Ông Trần Đông
Gia Minh:Xong giai đoạn này thì ý tưởng cho giai đoạn tiếp ra sao?
Ông Trần Đông: Trong thời gian tới sẽ không tổ chức những chuyến cầu nguyện lớn như thế này trừ trường hợp đặc biệt.. Dự trù năm tới sẽ đi đảo Kokrat- một đảo hải tặc lừng danh một thời ở Thái Lan. Năm ngoái có đến mà chưa lên bờ được nên năm tới sẽ đến để khảo sát, tìm hiểu những di tích của thuyền nhân ở đó thế nào, những dấu ghi trong hang... Đồng thời cũng nổ lực tìm kiếm những mộ thuyền nhân trong vùng Natuna mà trong 10 năm qqua có cố gắng nhưng chưa thực hiện được. Nên cũng có những 'nhiệm vụ' đặc biệt cho những chuyến đi đó.
Sau đó là trong một vài năm sẽ thực hiện những chuyến đi tảo mộ, năm này ở vùng này, năm sau ở vùng khác. Nhân những chuyến tảo mộ như thế sẽ xem xét những khu nghĩa trang có những thay đổi gì hay không và cần những 'duy tu' gì hay không.
Nhà báo Lưu Dân: Tiếp theo lời của anh Trần Đông tôi cũng xin bổ sung thế này: trong nước ( Việt Nam) có chiến dịch người ta nói '40 năm đã quá đủ'. Đó là nhìn nhận của đồng bào trong nước với chế độ; còn đối với người Việt ở hải ngoại thì 40 năm cũng là một thời gian quá dài để nhìn lại lịch sử, đồng thời ghi nhận lại những sự kiện lịch sử chính của những cộng đồng định cư tại các nước thứ ba.
Phần tiếp nối mà Văn Khố Thuyền Nhân dự định thực hiện thì ngoài những việc như anh Trần Đông vừa trình bày thì chúng tôi tập trung vào những mục đích chính khi thiết lập Văn Khố để sưu tầm, bảo toàn, gìn giữ những tài liệu về thuyền nhân Việt Nam. Đây là một giai đoạn lịch sử mà tôi tin rằng có ý nghĩa đặc biệt trong chỗi dài của lịch sử dân tộc để đánh dấu môt giai đoạn hết sức đặc biệt trong đời sống không chỉ về mặt chính trị xã hội mà còn cả về mặt tâm linh, và cả về tình tự dân tộc. Một giai đoạn mà thế hệ trẻ Việt Nam bây giờ ít có những hiểu biết để có những trải nghiệm tự thân để mà tại sao họ có mặt tại những nơi mà họ đang sinh sống; cũng như kinh nghiệm của cha ông họ đã trải qua để có đời sống như ngày nay.
Gia Minh:Xin cám ơn anh Trần Đông và nhà báo Lưu Dân.
Cựu phóng viên Arnold Issacs của tờ Baltimore Sun, Hoa Kỳ nằm trong số làn sóng những phóng viên Mỹ cuối cùng đến Việt Nam để đưa tin về cuộc chiến trong giai đoạn từ 1972 đến 1975. Ông là người đã rời Sài gòn vào ngày 29 tháng 4 cùng với nhiều phóng viên nước ngoài khác.
Nhân kỷ niệm 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam, phóng viên Arnold Issacs đã dành cho Việt Hà một cuộc phỏng vấn nhớ lại những năm tháng cuối của Việt Nam cộng hòa và những giây phút cuối của Sài gòn. Trước hết nói về bối cảnh cuộc chiến Việt Nam khi ông bắt đầu nhận nhiệm vụ đến Việt Nam để viết về cuộc chiến, phóng viên Arnold Issacs cho biết:
Vào tháng 6 năm 1972 là khi những cuộc phản công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đang được thành hình. Tôi nhớ không nhầm là vào tháng 4 và tháng 5, Bắc Việt đưa quân vào tấn công và chiếm lấy Quảng Trị. Họ cũng bao vây hai thủ phủ của hai tỉnh khác nhưng vào lúc mà tôi tới thì tình hình đã ổn định hơn và quân miền Nam đã tiến công lại. Đó là giai đoạn của cuộc chiến mà tôi bước vào.
Việt Hà: Khi ông đến Việt nam để đưa tin về cuộc chiến vào năm 1972 và sau đó là hiệp định Paris, ông có cảm giác rằng cuộc chiến sẽ sớm chấm dứt không?
Arnold Issacs: Bản thân hiệp định không thực sự giải quyết được câu hỏi về cuộc chiến. Cho nên nó không cho cảm giác là sẽ có một sự kết thúc. Nhưng tôi cũng không nghĩ là lệnh ngưng bắn sẽ hoàn toàn vô hiệu lực như đã xảy ra. Cho nên trong một thời gian ngắn tôi đã nghĩ cuộc chiến sẽ tiếp tục nhưng sẽ ở mức độ ít nghiêm trọng hơn và sẽ có quá trình đàm phán. Tôi đã vui khi xung đột ít đi nhưng nó không kéo dài bao lâu. Chỉ trong vòng 1 tuần sau đó, rõ ràng lệnh ngưng bắn đã không thay đổi điều gì. Điều thực sự thay đổi chỉ là những buổi họp báo ngắn hàng ngày. Trước đó họ thường nói là kẻ thù là bên bắt đầu những vụ gây hấn, còn bây giờ thì họ nói kẻ thù là bên vi phạm lệnh ngưng bắn. Nói chung là cũng giống nhau chỉ có từ ngữ là thay đổi.
Việt Hà: Một số người sau này nói rằng ngay sau khi hiệp định Paris được ký, cuộc chiến dường như đã kết thúc đối với miền Nam. Ông có nhận xét gì về ý kiến này?
Arnold Issacs: Tôi không nhìn thấy như vậy. Cuối cùng thì nhìn nhận của những người đó là đúng nhưng nó phải mất 2 năm để cuộc chiến kết thúc. Bối cảnh là trận chiến lớn vào năm 1972. Đó là năm của những trận chiến khốc liệt nhất. Đó là lý do cả hai phía đều mệt mỏi. Không bên nào giành được thắng lợi thực sự mà họ muốn. Sự bế tắc vẫn duy trì nhưng xung đột thì ở mức cao hơn. Thương vong của quân miền Nam cao hơn so với tất cả những năm trước đó.
Nhiều đơn vị tinh nhuệ phía Nam không còn chiến đấu hiệu quả như trước kia. Nhưng phía bên kia cũng chịu tổn thất tương tự. Đó là lý do mà chúng ta có hiệp định. Cả hai bên đều ra những đòn mạnh nhất và đều không thắng. Người ta có thể nói khác bây giờ nhưng đó là sự thật mà tôi thấy. Tôi chắc chắn đã không nghĩ là cuộc chiến sẽ sớm kết thúc và tôi có cảm giác là phía Bắc sẽ không bao giờ bỏ cuộc. Nhưng kết cục của cuộc chiến vẫn còn xa và nhiều người không nghĩ nó sẽ có kết thúc nhanh chóng vào lúc đó.
Việt Hà: Nhưng vào giai đoạn đó, số lượng phóng viên Mỹ đến chiến trường Việt Nam cũng không nhiều như trước nữa…
Arnold Issacs: Những chuyện mà người Mỹ quan tâm là cuộc chiến của người Mỹ. Họ muốn biết điều gì đã xảy ra với những người lính của họ. Họ không quan tâm lắm điều gì xảy ra với người Việt Nam. Họ không quan tâm lắm đến kết cục cuối cùng. Đến lúc đó người Mỹ chỉ bực tức khó chịu, và không tin là cuộc chiến mang lại cái gì. Cho nên mối quan tâm của người Mỹ giảm đi rất nhiều và báo chí phản ảnh điếu đó….Tôi nghĩ là những tin đưa về cuộc chiến trên báo chí Mỹ cũng giảm. Báo mà tôi làm việc vốn có phóng viên chiến trường ở Việt Nam nhưng chuyện về cuộc chiến cũng không nằm ở trang đầu mà nằm ở trang 16. Và cũng không có nhiều thảo luận tại Washington. Cho nên không có nhiều tin để đưa. Các tranh luận toàn quốc cũng hết. Và công chúng Mỹ dường như chấm dứt nói chuyện về cuộc chiến ngay sau khi quân Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam theo hiệp định. Họ không còn muốn nói về cuộc chiến nữa.
Việt Hà: Đến lúc nào thì ông thực sự có suy nghĩ là kết cục đang đến gần?
Arnold Issacs: Sau khi quân miền Nam đã đi đến hạn mức của mình trong phản công sau ngưng bắn và quân miền Bắc tấn công lại, dường như không có ai nói đến tình hình kinh tế miền Nam lúc đó, nó cũng giống như khủng hoảng kinh tế vào năm 1930. Nó bắt đầu với vụ mùa kém vào năm 1972, giá gạo lên cao. Mỹ rút và hàng trăm ngàn người Việt Nam mất việc. Kinh tế miền Nam Việt nam lúc đó không có nhiều hoạt động.
Phóng viên Arnold Issacs chụp với một dân làng Việt Nam tháng 11/1972
Tôi nhớ một Bộ trưởng chính quyền miền Nam có nói về chúng tôi, những người Mỹ như là một ngành kinh doanh du lịch và đó là sự thực. Nhiều người Việt làm cho các căn cứ quân sự của Mỹ. Những việc làm đó bị mất. Vào năm 1973 chúng ta có cấm vận dầu mỏ đầu tiên sau cuộc chiến ở trung đông, giá dầu tăng gấp đôi trong vòng 2 tháng. Nó khiến giá cả hàng hóa tăng. Nhiều hàng hóa của miền Nam là nhập khẩu và bị ảnh hưởng. Cho nên người dân miền Nam phải trải qua một sự khó khăn về kinh tế thực sự. Lương người lính không đủ đáp ứng nhu cầu gia đình họ…. đó là khoảng năm 1973 và 1974. Lính bỏ ngũ trong quân đội miền Nam cao và trong các năm đó thì con số bỏ ngũ lên rất cao, đến con số 200,000 người bỏ ngũ, tức là 1/5 sức mạnh quân đội.
Thật khó để miêu tả cảm giác của tôi lúc đó trước khi mà tôi biết được điều gì sẽ xảy ra như bây giờ tôi biết…. Một mặt, vào khoảng giữa năm 1974, tôi có cảm giác cơn sóng đang đi ngược lại miền Nam nhưng tôi không thể tưởng tượng được một hình ảnh rõ ràng là một bên thắng và bên kia hoàn toàn sẽ không còn tồn tại. Tôi không thể tưởng tượng được điều đó cho đến khi cuộc tổng tấn công cuối cùng bắt đầu và quân miền Nam rút. Nó bắt đầu vào giữa tháng 3 năm 1975 và chỉ khoảng 6 đến 7 tuần sau đó Sài gòn sụp đổ.
Việt Hà: Ông rời Việt Nam vào ngày 29 tháng 4, ngay trước ngày Sài gòn sụp đổ. Ông có bao giờ nghĩ là ông đã có thể ở lại để đưa tin ngày cuối của cuộc chiến không?
Arnold Issacs: Tôi không sợ mình sẽ ở lại. Tôi không nghĩ là mình sẽ gặp nguy hiểm cực kỳ nếu tôi nhỡ mất chuyến di tản. Quyết định của tôi lúc đó là tôi làm những gì an toàn hơn cả và tôi đưa ra quyết định nhanh. Tôi không ở cùng một vị trí như những người Việt Nam lúc đó, những người phục vụ quân đội miền Nam hay chính quyền miền Nam hay làm việc cho Mỹ. Họ lo sợ rằng họ sẽ bị truy tố, bị mất cuộc sống, hoặc bị giết hại. Nhưng đó không phải là tình huống của tôi. Nếu tôi vẫn ở đó khi quân cộng sản vào, tôi không nghĩ là tôi sẽ vẫn có thể gửi tin về cuộc chiến. Lúc đó rất khó để đến được căn cứ không quân. Tôi đã nghĩ mình sẽ bị kẹt ở khách sạn và bị giữ ở đó cho đến khi họ tống chúng tôi ra khỏi Việt Nam. Nhưng tôi không nghĩ là mình sẽ bị giết hay giam giữ trong tù nhiều năm. Tôi là người Mỹ và gia đình tôi không ở đó. Tôi biết điều đó.
Việt Hà: Tin cuối cùng ông viết về cuộc chiến Việt Nam ông còn nhớ là tin gì không?
Arnold Issacs: Tin cuối mà tôi nhớ là Tổng thống Thiệu từ chức vào ngày 21 tháng 4, 9 ngày trước khi kết thúc cuộc chiến. Vài ngày sau, ông rời nước. Ông bàn giao chính phủ cho Phó Tổng Thống. Ông Hương giữ chức thêm một tuần, trong khi đó quân miền Bắc tiến gần hơn vào Sài gòn. Cuối cùng vào ngày 28 ông Hương từ chức và giao quyền cho Dương Văn Minh, người được coi là lực lượng thứ 3, không đại diện cho chính quyền Sài Gòn hay cộng sản.
Tôi theo dõi những diễn biến đó. Tôi vào dinh và không có quân lính canh gác. Chúng tôi chứng kiến ông Hương đọc diễn văn và từ chức và theo dõi ông Minh đọc lời thề. Tôi viết tin và gửi tin đi. Ngay khi đó tôi nghe thấy có tiếng nổ lớn. Quân cộng sản đã lấy được máy bay chiến đấu vào đầu cuộc phản công, và có thể là một số phi công phía Nam đã ném bom Tân Sơn Nhất. Đó là mở đầu của cuộc tổng tấn công cuối và Tân Sơn Nhất bị ném bom, điều chưa từng xảy ra trước đó. Tôi không biết ngay điều gì xảy ra vào lúc đó, nhưng sau đó bom tiếp tục ném xuống. Mặc dù căn cứ không quân cách trung tâm thành phố 4 miles nhưng tôi nghe như rất gần. Tôi có cảm giác được những rung chuyển do bom. Quân lính trong Sài Gòn bắt đầu bắn súng lên trời. Chúng tôi không nhìn rõ mọi thứ vì nhiều khói. Vào sáng sớm hôm sau, họ bắn vào sân bay. Cho nên tôi nghĩ tin cuối về chiến tranh Việt nam mà tôi viết là tướng Minh nhậm chức.
Tôi có thể viết thêm một tin sau đó mà tôi không nhớ. Vào sáng hôm sau, di tản bắt đầu. Cuối ngày hôm đó tôi ở trên tàu và tôi viết về cuộc di tản. Nhưng chúng tôi không thể gửi tin đi. Không điện thoại di động hay internet. Những phóng viên trên tàu đều giống tôi. Chúng tôi viết tin trên tàu và giữ ở đó. Thuyền trưởng tàu hứa sẽ chuyển tin của chúng tôi lên ban chỉ huy khi có thể và chuyển tin về Mỹ ngay lúc nào có thể được. Cuối cùng thì tin mà tôi viết về cuộc di tản về đến Baltimore khoảng 4 hay 5 ngày sau. Cho nên câu chuyện cuối cùng mà tôi viết từ trên tàu và không được xuất bản cho đến vài ngày sau đó.
Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.
Cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên và phóng viên Hòa Ái chụp tại RFA tháng 4/2015
Hòa Ái, phóng viên RFA
Trong số gần 3000 quân nhân Mỹ gốc Việt hiện nay thì có khoảng 300-400 người trong số họ thuộc thế hệ 1.5, là những người được sinh ra ở VN trong thời gian chiến tranh nhưng lại sinh trưởng ở Hoa Kỳ. Nhân 40 năm ngày chiến tranh VN kết thúc, Hòa Ái có cuộc trao đổi với cựu Trung tá Bộ binh Ross Nguyễn Cao Nguyên để nghe chia sẻ về cuộc đời của ông luôn gắn liền với 2 chữ “chiến tranh”.
Hòa Ái: Hòa Ái xin phép được chào cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên.
Ông Nguyễn Cao Nguyên: Cám ơn cô Hòa Ái. Nhân dịp này Cao Nguyên xin kính chào quý khán thính giả đài ACTD.
Hòa Ái: Xin phép được hỏi cựu Trung tá vào thời điểm hiện nay tưởng niệm biến cố 30/4, hồi ức của ông về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh VN thì là ông nhớ lại là những hình ảnh gì?
Ông Nguyễn Cao Nguyên: Thời gian thấm thoát đi quá mau. Cô Hòa Ái cũng biết, thấm thoát thế mà đã 40 năm rồi. Gia đình của Nguyên được may mắn đi vào ngày 27/4/1975 trên chiếc C141, tàu bay cuối cùng của Mỹ. Ngày hôm đó, một điều mà Nguyên nhớ mãi đến nay là khi gia đình đã được xong giấy tờ của Quân lực Hoa Kỳ, ngồi trong xe buýt chạy ra cuối phi đạo Tân Sơn Nhất đợi tàu bay C141 tới.
Nguyên còn nhớ ngày Chủ Nhật, 27/4 này, lúc đó Nguyên được 16 tuổi. Nguyên thấy một số binh sĩ nhảy dù của Quân lực VNCH, có thể kêu là một đại đội Nhảy dù trấn đóng để bảo vệ Tân Sơn Nhất. Họ đứng nhìn từ phía sau hàng rào (fence) nhưng không ai la hét hay chửi bới gì hết. Tất cả những người đứng đó với một cặp mắt mà đối với Nguyên là một cặp mắt vừa buồn, vừa giận và có một vẻ gì đó hơi khinh bỉ.
Đó là niềm nhớ mãi mãi ở trong lòng của Nguyên. Đối với Nguyên, Nhảy dù là một binh chủng rất là dữ dội của Quân lực VNCH, hãy còn trật tự, hãy còn giữ đầy đủ cái tư cách của một người lính đứng nhìn những người đã bỏ nước mà đi.
Đối với Nguyên đó là điều rất là buồn trong lòng của mình tại mình biết mình bỏ người ta đi nhưng đó là một cái chuyện không thể nào đoán được.
Hòa Ái: Thưa ông, theo những chia sẻ của ông thì những hình ảnh trong ký ức đọng lại trong lòng ông có ít nhiều tác động đến quyết định trong việc chọn lựa cuộc đời binh nghiệp cho mình hay không?
Ông Nguyễn Cao Nguyên: Cô Hòa Ái phải biết, càng lớn tuổi chừng nào thì Cao Nguyên càng tin vào số mệnh chừng đó. Khi tôi khoảng chừng 12 tuổi thì đã nhất định đi theo bước chân của ba.
Ba của tôi là ông Nguyễn Đình Bản, Đại tá khóa 5 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Năm 1974, Nguyên nói với bố là “khi con thi xong tú tài thì con sẽ xin vào trường Võ Bị”. Năm 1975 mất nước mà khi mất nước rồi mình qua bên Mỹ thì ai cũng biết mình phải lo cuộc sống ở Hoa Kỳ nên chuyện vào trong quân đội bị chìm vào dĩ vãng. Nhưng đến năm 1983, khi Nguyên ra trường đại học rồi thì cảm thấy những điều mình đã trải qua từ năm 75 đến năm 83 có vẻ không đúng cái mộng mà mình muốn làm.
Cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên và con trai.
Một hôm (trong công việc làm) được gửi đến Fort Sill, một căn cứ pháo binh của Hoa Kỳ ở Oklahoma thì Nguyên thấy mấy anh Thiếu úy đi qua đi lại rồi Nguyên tự hỏi là “không biết đời lính như thế nào”. Nguyên mới về kí giấy xin đi vào trong quân đội thì được Bộ binh nhận. Thấm thoát 28 năm sau, bây giờ con trai cũng ở trong quân đội Mỹ nên gia đình của Nguyên được 3 đời trong quân đội, rất là hãnh diện.
Hòa Ái: Ký ức tuổi thơ ở VN của ông gắn liền với chiến tranh dưới lăng kính của một cậu thanh niên vừa mới lớn; và trong cuộc đời binh nghiệp, ông từng có mặt ở nhiều chiến trường trên thế giới, nhân sinh quan của ông về chiến tranh có khác biệt so với hồi xưa không?
Ông Nguyễn Cao Nguyên: Rất là khác biệt. Cô nói rất đúng! Sau 1 năm đóng ở Iraq, phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ thì Nguyên đã thấy được rằng chiến tranh đối với Nguyên là một phương tiện cuối cùng. Khi mình không còn phương tiện nào khác nữa mà khi đi đến chiến tranh rồi thì cô biết chiến tranh rất là tàn khốc, người chết, người bị thương, nhà tan cửa nát, gia đình ly tán...
Cho nên đối với Nguyên nếu có cuộc cách mạng nào (revolution) hay việc gì đó thì trước nhất là phải hòa bình (peaceful). Muốn thay đổi thì tự thay đổi chứ không cần đụng đến chiến tranh. Khi đưa đến chiến tranh rồi thì khó lắm, cũng như trường hợp bên nước Syria bây giờ, hơn 4 triệu người dân Syria bị tan nát cho nên những người mặc quân phục rất sợ chiến tranh.
Không phải sợ là vì không đủ sức làm mà sợ là vì khi đưa đến chiến tranh rồi thì phải có đánh nhau và giết nhau. Vì đánh nhau, giết nhau và ghét nhau phải đến 3-4 đời người mới trở lại được hòa ái và thương yêu nhau nên Nguyên sợ chiến tranh lắm.
Hòa Ái: Có vẻ như mâu thuẫn khi ông chia sẻ chọn cuộc đời binh nghiệp nhưng lại sợ chiến tranh. Hiện nay, Hòa Ái cũng ghi nhận được một số những người trẻ ở VN thì họ vẫn không có thiện cảm với quân nhân Mỹ. Theo như lịch sử họ học ngày xưa “Mỹ là kẻ thù của VN”. Bây giờ vẫn còn một số người vẫn cho rằng lính Mỹ là lính đánh thuê. Nếu như có cơ hội nói chuyện với họ thì ông sẽ nói gì?
Ông Nguyễn Cao Nguyên: Nguyên sẽ nói rằng lính Mỹ thật ra không phải là những người lính đánh thuê. Các bạn phải hiểu rằng nước Mỹ bây giờ vẫn là một cường quốc, vẫn là một nước giàu nhất trên thế giới mà khi mình đã giàu như vậy thì mình phải bằng mọi cách chia sẻ sự văn minh, sự tiến bộ, sự tự do dân chủ cho tất cả các nước mà mình có thể tiếp xúc được.
Không phải là mình đàn áp hoặc bắt người ta phải theo mình nhưng mà vì tự do và dân chủ, nước Mỹ đã trở thành một cường quốc như thế này. Một con người không thể nào bị đàn áp bởi tất cả chế độ nào hết. Chuyện Mỹ đi đánh là tại vì Mỹ đã thấy những người dân ở những nước bị đàn áp thật là khổ và thật là vô nhân đạo thì họ sẽ bằng mọi cách cố gắng để giúp những người dân đó. Như Nguyên đã nói, khi đã đụng đến chiến tranh thì Mỹ đánh là phải đánh cho cùng. Vì thế hiện giờ có nhiều chuyện rất là lủng củng trong chính quyền của Mỹ, nhưng tấm lòng của người Mỹ lúc nào cũng là tốt.
Hòa Ái: Câu hỏi cuối cùng là hiện nay có lẽ ông cũng biết VN có tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc. Tình hình càng ngày càng leo thang. Mặc dù VN luôn chủ trương giải quyết bằng các biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, trước những hành động hung hăng của Trung Quốc bây giờ, nhiều chuyên gia phân tích rằng biện pháp quân sự cũng không loại trừ. Ông nghĩ sao nếu trong trường hợp xấu nhất có xảy ra chiến tranh ở Biển Đông, liệu những cựu quân nhân Mỹ gốc Việt như ông sẽ có những đóng góp nào để bảo toàn lãnh thổ cho đất mẹ?
Ông Nguyễn Cao Nguyên: Chuyện đó thì những người quân nhân Mỹ gốc Việt chúng tôi đã giơ tay tuyên thệ là phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ. Cô cũng biết Hoa Kỳ hiện giờ đã bằng mọi cách trở về VN, không những về sinh hoạt kinh tế mà đến cả quân sự nữa. Không dám nói là vì sự đàn áp của Trung cộng nhưng mà ảnh hưởng của Trung cộng hiện giờ rất là mạnh trong vùng ĐNA, nhất là vùng của VN.
Sớm muộn gì nếu Trung cộng muốn bành trướng áp lực của họ bằng mọi cách chính trị hoặc là quân sự xuống ĐNA thì dĩ nhiên Hoa Kỳ không thể nào để chuyện đó xảy ra vì vùng đó rất là quan trọng về đường hải lộ. Nếu có chiến tranh xảy ra với Trung cộng thì chúng tôi, những quân nhân Mỹ gốc Việt, cũng phải tình nguyện hoặc bổ nhiệm đi vào những đơn vị đó và phải đánh. Nhưng theo cái kinh nghiệm của Nguyên với sự học hỏi của Nguyên là chiến tranh ở vùng ĐNA sẽ không đi tới tại vì ảnh hưởng về kinh tế, về xã hội của Trung cộng và nước Mỹ đã dính liền với nhau rất là nhiều, đưa đến chiến tranh thì rất là khó. Thể nào cũng đưa ra giải pháp yên ổn (tiếng Mỹ gọi là “peaceful solution”) nhưng với một điều kiện là quân đội Hoa Kỳ phải có mặt ở đó. Bây giờ Nguyên cũng thấy chính phủ VN và chính phủ Hoa Kỳ đã từ từ bắt tay lại, hợp tác với nhau rất là nhiều.
Hòa Ái: Xin được cảm ơn ông dành thời gian chia sẻ với quý khán thính giả của đài.
Ông Dan Southerland, Tổng Biên tập đài ACTD trả lời phỏng vấn Hòa Ái tháng 4/2015
Hòa Ái, phóng viên RFA
Ký giả Dan Southerland hiện là Tổng Biên tập đài ACTD. Trong sự nghiệp làm báo của mình, ông Southerland được biết đến như là một phóng viên kỳ cựu về tin tức ở Châu Á. Ông đến Sài Gòn làm việc hồi năm 1966 để đưa tin về chiến tranh VN trong suốt 9 năm cho đến ngày 30/4/1975. Ký giả Dan Southerland có cuộc trao đổi với Hòa Ái những ghi nhận của ông về VN sau khi chiến tranh chấm dứt 40 năm.
Ký ức buồn
Hòa Ái: Kính chào ông Dan Southerland, theo như Hòa Ái biết ông vẫn ở lại Sài Gòn cho đến những giờ phút cuối vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 như là một phóng viên Hoa Kỳ. Trong suốt 40 năm qua, điều gì khiến cho ông nhớ nhất về những ngày đó?
Ông Dan Southerland: Tôi nhớ đến những người bạn, những đồng nghiệp mà tôi cố gắng giúp di tản ra khỏi Nam-VN. Bối cảnh lúc đó ở Sài Gòn thật hỗn loạn. Chính phủ Mỹ đã không có kế hoạch di tản tốt dành cho các đồng nghiệp và bạn bè người Việt của những nhân viên Hoa Kỳ. Điều này gây ra nỗi hoang mang sợ hãi cho nhiều người. Tôi nhớ đã cố gắng thuyết phục 2 người bạn nên ra đi và tôi sẽ giúp họ lên trực thăng để di tản. Tôi cảm thấy thất vọng khi 2 người này tôi nghĩ họ cần phải đi thì họ quyết định ở lại. Trong khi tôi lo ngại cho số phận của họ dưới một chính quyền mới thì một trong hai người họ lại nghe theo lời đồn đoán Cộng sản Bắc Việt sẽ hợp tác với chính quyền VNCH và họ tin sẽ có cuộc sống yên lành.
Còn có 1 vị giáo sư với đứa con nhỏ nữa, trong lúc tôi phụ giúp mang quần áo em bé ra khỏi phòng khách sạn đi di tản thì bất thình lình ông ấy thay đổi quyết định. Ông ấy nói rằng sẽ không sao và đề nghị tôi nên giúp những quân nhân trong Quân lực VNCH. Tôi rất buồn vì không có cách nào để giúp những người lính di tản trong lúc họ đang đánh trận cuối cùng trong tuyệt vọng ở mạn Đông Bắc Sài Gòn. Rồi sau đó, vị giáo sư lại đổi ý muốn ra đi nhưng tôi lại không thể giúp vì quá đông người, không còn chỗ cho ông ấy nữa.
Thật là những ký ức buồn. Những giây phút trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN thật sự khủng khiếp. Tôi vẫn rất xúc động khi hồi tưởng lại những gì đã xảy ra.
- Ông Dan Southerland
Và tôi cũng nhớ đến 1 người bạn cũng là người thông dịch của tôi. Anh ta nói gia cảnh rất nghèo nên sẽ không gặp trở ngại nào với người Cộng sản. Anh ta tin mọi sự sẽ ổn, sẽ được sống trong hòa bình. Sự việc không như dự đoán, anh ta đã bị tra khảo, đánh đập. 2 năm sau đó, tôi nhận được cuộc điện thoại của anh ta từ Pháp quốc. Anh cho biết buộc phải vượt biên và 1 năm sau nữa, con tàu vượt biên chở vợ và 2 con gái của anh ấy bị công an bắn nhưng may mắn họ sống sót.
Thật là những ký ức buồn. Những giây phút trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN thật sự khủng khiếp. Tôi vẫn rất xúc động khi hồi tưởng lại những gì đã xảy ra.
Hòa Ái: Thưa ông, qua quyển sách “Perfect Spy” tạm dịch là “Điệp viên Hoàn hảo”, được viết bởi tác giả Larry Berman. Trong quyển sách này nhắc đến ông Phạm Xuân Ẩn đã liên lạc và nhờ ông sắp xếp để giúp cho Bác sĩ Trần Kim Tuyến, lãnh đạo ngành tình báo thời Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, di tản ra khỏi VN. Vì sao ông Ẩn lại cố gắng hết sức mình để giúp ông Tuyến, ông có biết hay không?
Ông Dan Southerland: Ông Trần Kim Tuyến được ông Phạm Xuân Ẩn bảo vệ. Thời điểm đó, tôi không biết ông Ẩn là điệp viên. Ông ta từng làm việc cho Bác sĩ Tình báo Trần Kim Tuyến, không một ai có thể ngờ ông Ẩn làm điệp viên cả. Vào ngày 29/4, ông Ẩn gọi điện thoại cho tôi nhờ giúp cho ông Tuyến đi di tản. Tôi đã liên lạc với một quan chức cấp cao Hoa Kỳ nhờ sắp xếp cho ông Trần Kim Tuyến.
Viên chức này nói nếu ông Tuyến không thể vào được bên trong Đại Sứ quán Mỹ thì đến số 39-Đường Gia Long, tôi không còn nhớ chính xác có phải số này không nữa. Tôi đã gọi lại cho ông Ẩn và thông báo địa chỉ, trên nóc tòa nhà sẽ có trực thăng đưa đi di tản. Đích thân ông Ẩn lái xe chở ông Tuyến đi đến địa chỉ trên. Ông Tuyến đã từng rất tốt với ông Ẩn. Tôi nghĩ ông Ẩn làm điều này để giúp cho ông Tuyến thoát được sự trừng phạt của Việt Cộng. Theo tôi biết, ông Ẩn còn giúp những người khác di tản nữa. Tuy tôi không biết rõ hết mọi điều nhưng tôi có liên quan đến câu chuyện này.
Hòa Ái: Kể từ sau ngày 30/4/1975, có bao giờ trở lại VN hay không? Và bao nhiêu lần?
Ông Dan Southerland: Có, 3 lần.
Ngày trở lại
Hòa Ái: Ấn tượng đầu tiên ông cảm nhận khi vừa đặt chân đến Sài Gòn là gì?
Ông Dan Southerland gặp lại ông Phạm Xuân Ẩn tại Việt Nam năm 2005.
Ông Dan Southerland: Lần đầu tiên vào năm 1982, tôi bị sốc. Nhiều người tôi gặp than phiền về tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm. Tôi cũng bị sốc khi biết một số bạn bè bị tù cải tạo, bị thiếu ăn mà phải lao động nặng nhọc. Có những người bị ở tù cải tạo đến 11, 12 năm và bị chết ở đó nữa. Tôi rất buồn khi nghe những tin tức này.
Có một điều khiến tôi vui là mọi người rất thân thiện và có óc khôi hài. Tôi đã đi đến chỗ tòa nhà Đại Sứ quán Mỹ, một vài người hỏi tôi từ đâu đến, tôi trả lời họ rằng tôi đến từ “Đế quốc Mỹ” khiến cho họ cười xòa. Tôi nói lại “Tôi là 1 người Mỹ”. Họ vỗ tay và chia sẻ mong muốn thấy người Mỹ trở lại. Thời gian đó ở VN có nhiều người Liên Xô nên tôi nói với họ “những người bạn mới Liên Xô thế nào?”. Họ trả lời là cũng giống người Mỹ nhưng không có đô la. Tôi nhận thấy có nhiều người nghèo. Người chạy xích lô chở tôi than rằng ông ta không có được tấm áo lành lặn. Tôi đã cởi ngay chiếc áo sơ mi đang mặc tặng cho ông ta. Có 1 phụ nữ nhờ tôi tìm giúp người chồng Mỹ ở Hoa Kỳ cho bà. Tất cả những gì tôi đang kể đã khiến tôi rất buồn.
Tôi nhận thấy có nhiều người nghèo. Người chạy xích lô chở tôi than rằng ông ta không có được tấm áo lành lặn. Tôi đã cởi ngay chiếc áo sơ mi đang mặc tặng cho ông ta.
- Ông Dan Southerland
Tôi cũng nhận được tin về ông Phạm Xuân Ẩn là Đại tá Tình báo Cộng sản. Khi đó tôi có 1 người “hộ tống” đi theo, Đại úy Phương Nam. Tôi yêu cầu được gặp gỡ với Đại tá Phạm Xuân Ẩn. Sau đó, Đại úy Phương Nam nói với tôi rằng ông Ẩn không muốn gặp mặt tôi.
Hòa Ái: Khi gặp lại ông Phạm Xuân Ẩn thì ông Ẩn có nói với ông rằng ông ta gặp trở ngại gì với chính quyền Hà Nội bởi vì ông ta đã cố gắng giúp ông Trần Kim Tuyến di tản ra khỏi VN hay không?
Ông Dan Southerland: Tôi gặp ông Ẩn trong chuyến trở lại VN lần thứ nhì, hồi năm 2005. Điều đầu tiên ông Ẩn nói với tôi là “Họ đã nói láo”. Ông cho biết rất vui gặp lại tôi. Chúng tôi trò chuyện với nhau và ông Ẩn xác nhận chưa bao giờ đưa thông tin sai lệch cho truyền thông Hoa Kỳ. Tôi tin là vậy. Tôi hỏi ông Ẩn những gì tôi nghe được từ dân chúng ở Sài Gòn nói về tệ nạn tham nhũng có đúng hay không. Ông Ẩn trả lời “Tệ hơn những gì ông được nghe”. Tôi nghĩ là ông Ẩn không còn tin tưởng vào chế độ mới nhưng ông nói chuyện rất thật trọng. Ông Ẩn cho biết không được phép đến Mỹ và không được đi ra khỏi VN. Sau 30/4/75, ông Ẩn phải đi học về thuyết Cộng sản.
Trả lời câu hỏi của cô, tôi nghĩ họ luôn nghi ngờ ông Ẩn vì ông ta đã giúp ông Tuyến và những người khác di tản khỏi Sài Gòn cũng như cố giúp cho 1 nhà báo ra khỏi tù. Họ thắc mắc về sự trung thành của ông Ẩn rằng ông ấy trung thành với Cộng sản hay trung thành với Mỹ?
Hòa Ái: Bên cạnh đó, ông Phạm Xuân Ẩn có chia sẻ gì với ông về suy nghĩ của ông ta khi VN được thống nhất?
Ông Dan Southerland: Ông Ẩn nói chuyện không giống như người Cộng sản. Ông ấy chỉ nói đến những vấn đề cụ thể như vấn nạn tham nhũng. Tôi chia sẻ ghi nhận của tôi rằng VN có vẻ như bắt chước mô hình của Trung Quốc, mở cửa cho kinh tế phát triển, bộ mặt của TP. HCM thay đổi với nhiều tòa nhà mọc lên. Thế nhưng, ông Ẩn lại cảnh báo với tôi phải thận trọng vì họ bắt chước cả hệ thống ngân hàng của Trung Quốc mà hệ thống ngân hàng này đầy yếu kém với những khoản nợ xấu khổng lồ. Ông Ẩn nói kinh tế VN bùng nổ không có gì là ấn tượng vì sự thay đổi này chỉ khiến người giàu càng giàu có và đẩy người nghèo đến chổ không còn gì. Có lẽ ông Ẩn mất niềm tin là vì vậy.
Bất bình
Hòa Ái: Thưa ông, qua các chuyến trở lại thăm VN sau năm 1975, điều gì đọng lại nhất trong lòng ông?
Ông Dan Southerland: Bên cạnh cảm giác bị sốc trước những gì diễn ra ở VN dưới sự lãnh đạo của chính quyền mới, trong chuyến đi lần thứ 3 vào năm 2013, tôi đến Hà Nội để tham dự hội thảo về truyền thanh. Tôi không đoán biết được người ta sẽ cư xử với tôi như thế nào nhưng họ thật ấn tượng và thân thiện. Và những người tôi gặp đều có trình độ. Những người trẻ bày tỏ mong muốn được đến Hoa Kỳ học thạc sĩ cũng như những kỹ thuật tiên tiến của Mỹ.
Tôi đã đến Phòng trưng bày Nhà tù Hỏa Lò. Tôi thấy bất bình về những lời nói xấu các phi công Mỹ. Những lời nói đó hoàn toàn là bịa đặt.
- Ông Dan Southerland
Tôi đã đến Phòng trưng bày Nhà tù Hỏa Lò. Tôi thấy bất bình về những lời nói xấu các phi công Mỹ. Những lời nói đó hoàn toàn là bịa đặt.
Những thông tin về các phi công Mỹ được đối xử tử tế là không đúng sự thật. Tôi cũng đến tham quan Bảo tàng Cách mạng. Tôi không thấy thích thú gì với những thông tin lịch sử được ghi lại.
Hồi năm 2005, tôi có đến thăm Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM, ở đây mọi thứ được bảo quản rất chu đáo và đẹp đẽ. Sau đó, tôi cũng đến thăm Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Ở chỗ này thì có bảng ghi “Cấm chụp hình”.
Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa
Tôi cảm thấy buồn và tôi đã vòng ra phía trước, định bước vào bên trong nghĩa trang nhưng có 2 người trên xe gắn máy áp sát tôi, nói là “Ông không thể vào được. Đây là khu vực cấm”. Tôi nhận thấy 2 nghĩa trang khác nhau quá xa.
Trong chuyến đi năm 2013, tôi có trở lại viếng Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM và Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Lần này không có người canh gác bên ngoài, tôi đi vào bên trong nghĩa trang, bảo vệ yêu cầu tôi xuất trình hộ chiếu và tôi được phép viếng nghĩa trang. Tôi đi vòng quanh khoảng vài giờ đồng hồ. Tôi gặp một người đi mộ tìm anh của mình. Tôi đi cùng với người này nhưng đã không tìm ra được vì có cả hàng ngàn ngôi mộ ở đây. Tôi nghĩ người này sẽ trở lại tiếp tục tìm kiếm. Chính quyền có sự thay đổi tích cực đã cho phép gia đình của những tử sĩ VNCH đến viếng và sửa sang các ngôi mộ. Tôi đoán sự thay đổi này là do áp lực từ phía người Việt hải ngoại và từ phía Mỹ.
Và một điều đáng ghi nhận là tôi thấy có rất nhiều trường Anh ngữ mọc lên ở Sài Gòn, có rất nhiều người học tiếng Anh kể cả trẻ em. Tôi hỏi anh tài xế tại sao lại học tiếng Anh mà không học tiếng Hoa vì tôi thấy Trung Quốc đầu tư vô VN rất nhiều. Anh tài xế trả lời rằng “Chúng tôi ghét Trung Quốc”. Tôi hỏi lý do vì sao thì anh tài xế nói “Vì lịch sử gần 1000 năm Bắc thuộc”. Và anh ta nhắc đến cuộc chiến tranh Biên giới năm 1979.
Qua 3 chuyến trở lại VN sau năm 1975, tôi thấy có những thay đổi mặc dù còn nhiều vấn đề bất cập.
Hòa Ái: Và người VN có chia sẻ với ông rằng họ cảm thấy vui mừng khi gặp lại những người Mỹ?
Ông Dan Southerland: Có. Khi người ta biết tôi là một phóng viên, họ nói chuyện rất cởi mở nhưng họ còn dè dặt. Năm 2013, mặc dù mọi người thân thiện nhưng vẫn còn nhiều người e ngại với công an vì sợ bị theo dõi. Tôi thấy buồn về điều này. Tôi rất cảm kích tinh thần người VN vượt qua những mất mát, tổn thương sau chiến tranh để xây dựng lại quê hương của mình. Tôi nghĩ họ cần phải cởi mở hơn nữa đối với nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cũng như về quốc gia.
Hòa Ái: Cảm ơn ông Dan Southerland dành thời gian chia sẻ với quý khán thính giả của đài ACTD.
Ông Dan Southerland: Cảm ơn. Tôi rất xúc động khi chia sẻ những điều này.
Trong tuần qua nhiều người lính Việt Nam Cộng Hòa bị thương trong cuộc chiến trước đây lại tập trung để tham gia chương trình ‘Tri ân Thương Phế Binh’ với chủ đề “Bên nhau đi nốt cuộc đời”.
• Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.
Bác bồng tôi lên giường, hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi.Bác như một con cọp đói mồi, sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xuôi tay... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròn 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.